Trong các lý do gia đình Việt tìm tư cách cư trú nước ngoài, y tế thường nằm trong ba lý do đầu. Nhưng phần này bị mô tả đơn giản hơn thực tế.
Bốn cơ chế khác nhau
Không có một mô hình "y tế nước ngoài" chung. Có ít nhất bốn cơ chế, và chúng khác nhau về điều kiện tiếp cận.
Hệ thống do thuế chi trả. Tiếp cận thường gắn với tư cách cư trú và việc đóng thuế tại nước đó. Người có thẻ cư trú nhưng không sống và không đóng thuế ở đó thường không đủ điều kiện, hoặc chỉ đủ sau một thời gian.
Hệ thống bảo hiểm bắt buộc. Người cư trú phải tham gia và đóng phí hằng tháng, thường theo tỷ lệ thu nhập. Có tư cách cư trú là có nghĩa vụ đóng, và cũng có quyền dùng.
Hệ thống tư nhân là chính. Nhà nước chi trả rất ít, mọi người dựa vào bảo hiểm tư. Tư cách cư trú không quyết định nhiều; khả năng chi trả bảo hiểm mới quyết định.
Yêu cầu bảo hiểm tư như điều kiện cư trú. Nhiều chương trình cư trú theo đầu tư bắt buộc có bảo hiểm y tế tư nhân trong suốt thời gian cư trú. Đây là chi phí định kỳ, không phải một lần.
Điều cần kiểm cho từng chương trình
Có được dùng y tế công không, và từ khi nào. Có nơi tính ngay, có nơi sau một thời gian cư trú thực tế, có nơi chỉ khi đóng thuế tại đó.
Có bắt buộc mua bảo hiểm tư không, và mức nào. Đây là điều kiện của nhiều chương trình cư trú, và mức phí tăng theo tuổi.
Người phụ thuộc có được không. Vợ chồng, con, và đôi khi cha mẹ — điều kiện cho từng nhóm có thể khác nhau.
Bệnh có sẵn được xử lý thế nào. Bảo hiểm tư thường loại trừ hoặc chờ một thời gian với bệnh đã có trước khi mua. Với người trên năm mươi hoặc có bệnh nền, đây là câu hỏi quan trọng nhất và nên hỏi trước khi chọn nước.
Mặt bất lợi ít được nói
Thời gian chờ ở hệ thống công. Y tế công miễn phí hoặc rẻ không có nghĩa là nhanh. Ở nhiều nước, thời gian chờ khám chuyên khoa hoặc phẫu thuật không cấp cứu tính bằng tháng. Đây là lý do nhiều người ở các nước đó vẫn mua bảo hiểm tư song song.
Rào cản ngôn ngữ trong y tế. Đây là nơi rào cản ngôn ngữ nghiêm trọng nhất, khác hẳn chuyện đi chợ hay làm giấy tờ. Ở thành phố lớn thường có bác sĩ nói tiếng Anh; ở nơi khác thì không chắc.
Phí bảo hiểm tăng theo tuổi. Chi phí bảo hiểm tư ở tuổi sáu mươi khác rất nhiều so với tuổi bốn mươi. Nếu chương trình yêu cầu duy trì bảo hiểm lâu dài, cần tính chi phí ở độ tuổi tương lai, không phải hiện tại.
Không phải nước phát triển nào cũng có y tế tốt hơn. Chất lượng khác nhau giữa các vùng trong cùng một nước. So sánh nên ở mức thành phố cụ thể, không ở mức quốc gia.
Nhóm cần cẩn thận nhất
Người có bệnh nền hoặc trên năm mươi tuổi. Hai câu hỏi cần trả lời trước khi chọn nước: bảo hiểm tư ở đó có nhận không và với điều kiện gì, và y tế công có tiếp cận được không.
Với nhóm này, một nước có y tế công dễ tiếp cận thường giá trị hơn một nước có hộ chiếu mạnh hơn. Đó là phép so sánh hoàn toàn khác với phép so sánh số nước miễn visa.
Ba câu nên hỏi trước khi ký
Tư cách này cho tôi tiếp cận y tế công không, từ khi nào, và với điều kiện gì?
Tôi có bắt buộc mua bảo hiểm tư không, mức phí hiện tại và dự kiến ở tuổi cao hơn?
Bệnh đã có sẵn được xử lý thế nào?
Đơn vị tư vấn di trú trả lời được câu một. Câu hai và ba nên hỏi trực tiếp công ty bảo hiểm ở nước đó, vì đó là bên chịu trách nhiệm về câu trả lời.
Chúng tôi không phải chuyên gia y tế hay bảo hiểm và không đưa ra ý kiến trong hai lĩnh vực đó. Nhưng chúng tôi cho rằng ai bán một chương trình cư trú mà không hỏi gì về tuổi và tình trạng sức khoẻ của gia đình anh chị thì chưa làm đủ việc.